Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng mười, 2012

[Bài viết] Điện toán đám mây (cloud computing) ?

Công nghệ điện toán đám mây 

Điện toán đám mây là một thuật ngữ được nhắc tới khá nhiều trong giới công nghệ gần đây. Thuật ngữ này liên quan tới rất nhiều các công nghệ mới đang phát triển và bản thân định nghĩa về điện toán đám mây cũng vẫn còn đang được những người làm công nghệ tinh chỉnh lại hàng ngày. Thay vì tham vọng đưa lại cái nhìn chi tiết cho người đọc về từng khía cạnh khác nhau của điện toán đám mây, ở đây chỉ xin nêu những điểm chung nhất về thuật ngữ đang hot này.

Một cách đơn giản, điện toán đám mây là việc ảo hóa các tài nguyên tính toán và các ứng dụng. Thay vì việc bạn sử dụng một hoặc nhiều  máy chủ thật (ngay trước mắt, có thể sờ được, có thể tự bạn ấn nút bật tắt được) thì nay bạn sẽ sử dụng các tài nguyên được ảo hóa (virtualized) thông qua môi trường Internet. Bản thân từ đám mây (cloud) là một từ ẩn dụ (metaphor) cho Internet.

Như vậy, trước đây để có thể triển khai một ứng dụng (ví dụ một trang Web), bạn phải đi mua/thuê một hay nhiều máy chủ (server), sau đó đ…

# Ứng dụng cơ bản của điện toán đám mây

Thực ra ứng dụng của công nghệ đám mây là vô giới hạn. Chỉ cần có một middleware phù hợp là một hệ thống mây có thể xử lý tất cả các chương trình như bất kỳ một máy tính bình thường nào khác. Tất cả các loại phần mềm, từ trình xử lý văn bản tới ứng dụng tin học tùy biến được thiết kế cho một công ty cụ thể nào đó đều có thể tự do hoạt động trong “đám mây.”

Các ông lớn về công nghệ đám mây

Một số công ty đang nghiên cứu công nghệ đám mây chính là những người khổng lồ trong ngành máy tính. Microsoft, IBM và Google đều đang đầu tư hàng triệu đôla vào việc nghiên cứu. Một số người còn nghĩ rằng Apple cũng sẽ tìm hiểu khả năng sản xuất phần cứng giao diện dành cho hệ thống công nghệ này.



Tại sao nhiều người lại muốn gửi gắm ứng dụng và dữ liệu của mình cho một hệ thống máy tính ngoài? Dưới đây là một trong số những lý do chính:

Khách hàng muốn truy cập vào các ứng dụng và dữ liệu của mình từ mọi nơi và vào mọi thời điểm. Họ có thể truy cập vào hệ thống mây từ bất kỳ máy tính nào nối mạng Inter…

# Những tiên đoán về công nghệ tương lai của các nhà khoa học trong lịch sử

Nhiều ý kiến cho rằng những thế hệ trước hẳn không thể nhìn ra được sự phát triển tối tân của con người thời hiện đại. Nhưng không hẳn là như thế khi có rất nhiều những bậc học giả, nhà khoa học, thiên tài dường như là có tầm nhìn khá xa, tầm nhìn của họ không phải do sự linh cảm từ chúa mà chính là từ sức sáng tạo và tài năng. Trong thời đại của họ thì những tiên đoán có vẻ không tưởng nhưng thực tế chứng minh là những người này đã đúng, thậm chí là đúng nhiều. Sau đây là một số nhà tiên tri khoa học tài ba trong khoảng thời gian 400 lùi lại.
Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này

1. Robert Boyle (1627-1691)
Robert Boyle – nổi tiếng nhất với định luật Boyle, một định luật hóa học mô tả mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa áp suất tuyệt đối và thể tích của khối khi nếu nhiệt độ giữ không đổi trong hệ kín. Ngoài ra ông còn là một nhà vật lý, phát minh và triết gia tài ba. Ông sở hữu một tư duy sáng tạo tuyệt vời và khả năng nhìn nhận sâu sắc.

Sau khi ông qua đời năm 1961, Hội Hoà…

# Trí tuệ nhân tạo trong phát triển khoa học kỹ thuật

QĐND - Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là "khả năng suy luận và thực hiện các hành động" của các thiết bị, máy móc tương tự như trong não người. Thuật ngữ này được dùng để nói đến các máy tính có mục đích không nhất định, ngành khoa học nghiên cứu lý thuyết và các ứng dụng của TTNT. Đây là một ngành trọng yếu của tin học, liên quan đến cách cư xử, sự học hỏi và khả năng thích ứng thông minh của máy móc. TTNT trở thành một môn học với mục đích chính là cung cấp lời giải cho các vấn đề của cuộc sống thực tế. Ngày nay, các hệ thống nhân tạo được dùng thường xuyên trong kinh tế, y dược, các ngành kỹ thuật quân sự, cũng như trong các phần mềm máy tính thông dụng trong gia đình và trò chơi điện tử.

QĐND - Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là "khả năng suy luận và thực hiện các hành động" của các thiết bị, máy móc tương tự như trong não người. Thuật ngữ này được dùng để nói đến các máy tính có mục đích không nhất định, ngành khoa học nghiên cứu lý thuyết và các ứng dụng của TTNT. Đây là một…

# Học Công nghệ thông tin cần những tố chất gì?

1. Công nghệ thông tin là gì? 

Khái niệm: Công nghệ thông tin (CNTT) hiểu theo nghĩa rộng và tổng quát nhất là việc sử dụng các công nghệ hiện đại vào việc tạo ra, lưu trữ, xử lý và truyền dẫn thông tin. Có nhiều cách phân loại các chuyên ngành học CNTT nhưng theo chuẩn ACM của Mỹ thì bậc học đại học CNTT được chia làm 5 chuyên ngành là: 
Khoa học máy tính (Computer Science): thiên về các lý thuyết cơ bản của ngành CNTT như lý thuyết tính toán, khoa học vật liệu, lý thuyết xử lý hình ảnh, âm thanh, lý thuyết khai thác cơ sở dữ liệu, …
Kỹ nghệ máy tính (Computer Technology): thiên về đào tạo lý thuyết và ứng dụng liên quan đến thiết kế và sản xuất phần cứng máy tính.
Kỹ nghệ phần mềm (Software Technology): lý thuyết và ứng dụng các công nghệ sản xuất phần mềm, quy trình, công cụ, ngôn ngữ lập trình.
Hệ thống thông tin (Information System): lý thuyết và ứng dụng CNTT trong việc quản lý hệ thống thông tin của doanh nghiệp, tổ chức.
Ứng dụng CNTT (Information Technology): ứng dụng và triển khai…

# Học ngành Công nghệ thông tin ra trường làm gì?

Khối ngành Công nghệ thông tin (CNTT) luôn thu hút sự quan tâm của nhiều thí sinh, đặc biệt là các bạn có niềm đam mê về tin học, mạng máy tính... Sau khi tốt nghiệp khối ngành này, sinh viên sẽ được trang bị những kiến thức gì, làm những công việc gì, bài viết dưới đây sẽ trả lời câu hỏi đó.

>>> Tủ sách hướng nghiệp: Ngành Công nghệ thông tin

Khối ngành CNTT không chiếm tỉ lệ lớn về lượng hồ sơ đăng ký dự thi hàng năm nhưng lại luôn được nhắc đến nhiều bởi sự bùng nổ của ngành CNTT. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, lượng thí sinh thi vào khối ngành này đang có xu hướng giảm, tỉ lệ chọi xuống thấp kéo theo đó là mức điểm chuẩn cũng giảm dần. Mức điểm chuẩn của các chuyên ngành trong khối ngành này năm 2011 chủ yếu là dưới 20.

1. Công nghệ thông tin

Ngành CNTT là một ngành chung, sinh viên được trang bị các kiến thức về khoa học tự nhiên, các kiến thức cơ bản như mạng máy tính, an toàn và bảo mật hệ thống thông tin, phân tích và thiết kế hệ thống thông tin, lập trình, phần mềm……

# Bài thực hành C\C++ (CDTin K8 - 26/10/2012)

/* Bài 1. In ra màn hình tất cả các số nguyên gồm 4 chữ số, sao cho tổng các chữ số là số nguyên tố */



#include<iostream.h> 
#include<conio.h> 
void main() {  
     int a, dv,ch,tr,ng;  
     cout<<"\n Ket qua: "; 
     for(a=1000;a<=9999; a++)
    {  
     dv=a%10;   
     ch=(a/10)%10; 
     tr=(a/100)%10;  
    ng=a/1000;

   // kiem tra nguyen to   
   int test=0,s=dv+ch+tr+ng;
   for(int i=2;i<s;i++)    
        if(s%i==0){ test=1; break;}  
   if (test==0) cout<<a<<", ";

  } 
getch(); 
} //------------------------------------------------------
/* Bài 2.
- Nhập vào 1 dãy số nguyên có n số (1<=n<=100)
- In ra màn hình các số lớn hơn 0
- Tìm max
- Tính tổng các số lớn hơn 10
*/

#include<iostream.h>#include<conio.h>
void main(){
int a[100],n;
// Nhap so phan tu n
do{cout<<"\n n= ";
cin>>n;
if(n<1||n>100)cout<<"\n Nhap lai n!";
}while (n<1||n>100);
// Nhap day socout<<"\n Nhap d…

# Giới thiệu tổng quan về ngôn ngữ lập trình C

Ngôn ngữ lập trình C là một ngôn ngữ mệnh lệnh được phát triển từ đầu thập niên 1970 bởi Ken Thompson và Dennis Ritchie để dùng trong hệ điều hành UNIX. Từ dó, ngôn ngữ này đã lan rộng ra nhiều hệ điều hành khác và trở thành một những ngôn ngữ phổ dụng nhất. C là ngôn ngữ rất có hiệu quả và được ưa chuộng nhất để viết các phần mềm hệ thống, mặc dù nó cũng được dùng cho việc viết các ứng dụng. Ngoài ra, C cũng thường được dùng làm phương tiện giảng dạy trong khoa học máy tính mặc dù ngôn ngữ này không được thiết kế dành cho người nhập môn.

Tổng quan
C là một ngôn ngữ lập trình tương đối nhỏ gọn vận hành gần với phần cứng và nó giống với ngôn ngữ Assembler hơn hầu hết các ngôn ngữ bậc cao. Hơn thế, C đôi khi được đánh giá như là "có khả năng di động", cho thấy sự khác nhau quan trọng giữa nó với ngôn ngữ bậc thấp như là Assembler, đó là việc mã C có thể được dịch và thi hành trong hầu hết các máy tính, hơn hẳn các ngôn ngữ hiện tại trong khi đó thì Assembler chỉ có thể chạy tron…